SỬ QUÂN TỬ

(Semen Quisqualis Indicae)

Sử quân tử còn gọi là Sứ quân tử, quả giun, quả nấc, Lưu cầu tử dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Khai bảo bản thảo là nhân chín của quả cây Sử quân tử, tên thực vật là Quisqualis Indica L thuộc họ Bàng Combretaceae.

Cây Sử quân tử mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và Trung nước ta. Hàng năm vào khoảng tháng 9 và 10 quả chín chuyển màu tím đen, hái về phơi khô bỏ vỏ lấy nhân cho vào chảo đun lửa nhỏ sao đến lúc có mùi thơm để nguội làm thuốc.

Tính vị qui kinh:

Sử quân tử vị ngọt tính ôn, qui kinh Tỳ vị.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Potassium quisqualata ( quả vỏ đều có), dầu béo (20 - 27%), myristic acid, oleic acid, palmitic acid, stearic acid, linoleic acid, đường.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Sử quân tử có tác dụng: sát trùng tiêu tích. Chủ trị chứng trùng tích, phúc thống, tiểu nhi cam tích.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Xổ lãi đũa: có báo cáo dùng Sử quân tử trị 194 ca, có 10 ca dùng thuốc sao thơm tán bột làm viên, mỗi tuần uống 1g chia 2 lần uống có kết quả ra lãi 100%. Xổ lãi đũa là chính. In vitro, thuốc còn có tác dụng ức chế mạnh lãi đũa ở heo, giun đất, đỉa. Thành phần có tác dụng chủ yếu là Potassium quiqualata. Thuốc có tác dụng xổ lãi kim.
  2. Nước ngâm kiệt thuốc có tác dụng ức chế nhiều loại nấm gây bệnh ngoài da in vitro.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị lãi đũa:

2.Trị lãi kim:

3.Trị giun chui ống mật, đau bụng:

4.Trị trùng roi đường ruột:

Nếu chưa khỏi, cách 3 - 5 ngày uống lại 1 - 2 liệu trình. Theo dõi 7 ca, người lớn 3 ca uống 1 liệu trình khỏi. Trẻ em 4 ca, dùng 2 - 3 liệu trình khỏi ( Lưu cảnh Tụ, báo Trung y Giang tô1964,10:16).

5.Trị chứng cam tích trẻ em do Tỳ hư:

Nhân quả giun (sao vàng thơm giòn, tán bột) 20g, Thóc ngâm nẩy mầm (sao khô tán nhỏ) 20g, Đậu xanh nẩy mầm (sao vàng tán nhỏ) 10g. Cả ba vị trộn đều, sấy khô đựng vào lọ kín. Ngày uống 1 - 2 thìa cà phê bột trộn với cháo đường hay mật ong.

Liều thường dùng và chú ý: