Thứ Hai, 11/12/2017 22:02 CH
Báo cáo tóm tắt
Tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2017 và nhiệm vụ kế hoạch năm 2018
Thứ Năm, 07/12/2017 10:48 SA

Năm 2017, bên cạnh một số thuận lợi cơ bản, tỉnh ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng thiên tai bão lụt; giá cả một số mặt hàng nông sản biến động theo chiều hướng giảm; dịch bệnh trên một số cây trồng, thủy sản nuôi tái diễn... đã ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.

 

Tuy nhiên, với sự tổ chức thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các nghị quyết của Chính phủ, của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND tỉnh; sự nỗ lực của các ngành, các cấp; sự đồng thuận, ủng hộ của các thành phần kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh nên tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của tỉnh tiếp tục ổn định và có mặt phát triển.

 

A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017

 

Có 15/16 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra. Cụ thể:

 

* 15 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đó là:

 

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP giá SS năm 2010) đạt 7,8% (KH 7,8%).

Trong đó:

Nông - lâm - thủy sản 3,56% (KH 3,6%)

 

Công nghiệp - Xây dựng 11,43% (KH 11,2%)

 

Dịch vụ 8,45% (KH 8,9%)

 

Thuế sản phẩm 1,71% (KH 5%)

 

- Thu ngân sách trên địa bàn 3.790 tỉ đồng (KH 3.790 tỉ đồng)

 

- Tổng kim ngạch xuất khẩu 134,6 triệu USD (KH 130 triệu USD), tăng 0,4%.

 

- Giải quyết việc làm 24.850 lao động (KH 24.500 lao động), tăng 1,4%.

 

- Mức giảm tỉ lệ hộ nghèo 2,23% (KH 2,2%), tăng 0,03%.

 

- Mức giảm sinh 0,2‰ (KH 0,2‰).

 

- Tỉ lệ dân cư đóng bảo hiểm y tế 83% (KH 81,5%), tăng 1,5%.

 

- Tỉ lệ lao động tham gia BHXH/tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế 17,6% (KH 17,5%), tăng 0,1%.

 

- Tỉ lệ lao động qua đào tạo trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế 61% (KH 61%).

 

- Tỉ lệ dân cư thành thị sử dụng nước sạch 80% (KH 80%).

 

- Tỉ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước sạch và nước hợp vệ sinh 97% (KH 97%).

 

- Tỉ lệ độ che phủ rừng 40,4% (KH 40,4%).

 

- Tỉ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới 45% (KH 45%)

 

- Tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn 13,6% (KH 13,6%)

 

- Tỉ lệ giao quân 100% (KH 100%).

 

* 1 chỉ tiêu không đạt kế hoạch đó là: Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước thực hiện 13.132 tỉ đồng (KH 20.500 tỉ đồng, đạt 64,1% KH).

 

I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRÊN TỪNG LĨNH VỰC

 

1. Về kinh tế

 

- Nền kinh tế tỉnh tiếp tục ổn định và duy trì mức tăng trưởng 7,8%. Cơ cấu nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, tỉ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 28,51%; nông - lâm - thủy sản chiếm 24,84% và dịch vụ chiếm 42,99% trong cơ cấu GRDP. Thu nhập bình quân đầu người là 35,9 triệu đồng, tăng 9,43% so năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng đầu năm 2017 tăng 5,21% so với cùng kỳ.

 

 

- Sản xuất nông, lâm, thủy sản tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng giá trị sản xuất đạt 100,9% so với kế hoạch, tăng 3,7% so cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 400,7 ngàn tấn, vượt 1,5% so với kế hoạch. Bước đầu đã mời gọi được Tập đoàn TH và Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn.

 

Mô hình chăn nuôi trang trại, gia trại tiếp tục phát triển, góp phần hạn chế dịch bệnh, nâng cao thu nhập cho người dân. Công tác quản lý, bảo vệ rừng được tập trung chỉ đạo, số vụ phá rừng và diện tích rừng thiệt hại giảm đáng kể so với cùng kỳ.

 

Sản lượng khai thác thủy sản tăng 4,3%; trong đó khai thác cá ngừ đại dương tăng 6,6% so cùng kỳ. Nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng dịch bệnh. Đã xảy ra tình trạng tôm hùm nuôi chết hàng loạt ở thị xã Sông Cầu, làm thiệt hại lớn cho người nuôi, nguyên nhân chủ yếu là do người dân nuôi tự phát không theo quy hoạch với mật độ dày, gây ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh.

 

Tỉnh đã có chủ trương tạm ứng 5 tỉ đồng để hỗ trợ cho các hộ dân bị thiệt hại và đề nghị các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh xem xét hỗ trợ 50% lãi suất, đồng thời tiếp tục cho vay vốn để tái đầu tư, ổn định đời sống.

 

- Công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn luôn chủ động, kịp thời và quyết liệt. Trước thông tin dự báo vào ngày 3-4/11/2017 cơn bão số 12 sẽ ảnh hưởng trực tiếp vào tỉnh Phú Yên, thực hiện Công điện của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã tổ chức ngay cuộc họp, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cụ thể các cấp, các ngành, địa phương và các thành viên Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão tỉnh bám sát địa bàn, triển khai các phương án phòng, tránh và thông tin rộng rãi diễn biến của cơn bão số 12 trên các phương tiện thông tin đại chúng, gửi tin nhắn qua điện thoại để nhân dân biết chủ động phòng tránh. Vận động, kiên quyết di dời gần 14.000 hộ dân ởnhững vùng trũng thấp, đến nơi an toàn.

 

Tuy nhiên, cơn bão với sức gió mạnh (cấp độ rủi ro thiên tai cấp 4) ảnh hưởng trực tiếp vào tỉnh ta, cộng với mưa lớn trên diện rộng, đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản của nhân dân trên địa bàn. Cụ thể, toàn tỉnh có 2 người chết, 2 người mất tích, 37 người bị thương; nhiều nhà cửa, hoa màu bị ngập, hệ thống cây xanh ngã đổ hàng loạt; nhiều tuyến giao thông, kênh mương, đê kè sạt lở… ước tổng thiệt hại là 3.479 tỉ đồng.

 

Ngay sau bão, UBND tỉnh chỉ đạo các ngành, các cấp tập trung khắc phục hậu quả bão lũ, khôi phục ngay các cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, nước, xử lý nguồn nước, vệ sinh môi trường…. để sớm khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn.

 

Đến ngày 29/11/2017, có 68 tổ chức, cơ quan, cá nhân đăng ký ủng hộ tiền, hiện vật cho bà con bị thiệt hại bão lũ trên địa bàn tỉnh với tổng trị giá hơn 20,4 tỉ đồng. Ban đầu, Trung ương đã hỗ trợ cho tỉnh 500 tấn gạo và 170 tỉ đồng để khắc phục hậu quả bão số 12, hiện tỉnh đang tập trung phân bổ cho các địa phương.

 

 

- Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo. Đến nay, toàn tỉnh đạt bình quân 14,4 tiêu chí/xã (tăng 0,64 tiêu chí/xã so cuối năm 2016); ước đến cuối năm 2017 có 45% số xã đạt chuẩn, đạt kế hoạch đề ra.

 

Tuy nhiên, trong số 31 xã đã được công nhận đạt chuẩn đến cuối năm 2016, có 10 xã không giữ vững các tiêu chí theo quy định, nguyên nhân là do một số tiêu chí được điều chỉnh theo quy định mới như: tiêu chí về hộ nghèo, tỉ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế, an ninh trật tự... Chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn các xã thuộc khu vực miền núi và Chương trình bê tông hẻm phố triển khai chậm, do thủ tục đầu tư phức tạp và ảnh hưởng mưa lũ.

 

- Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 10,2% so cùng kỳ, đạt 96,7% kế hoạch năm. Đã hoàn thành đưa vào sử dụng một số nhà máy tạo ra sản phẩm mới như: phân bón NPK tháp cao, điện sinh khối, dầu vỏ hạt điều…

 

- Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng phục vụ. Đã tổ chức thành công một số hội chợ thu hút đông đảo người dân đến tham quan, mua sắm. Đã đưa vào hoạt động sàn thương mại điện tử. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, đạt 101,6% kế hoạch, tăng 10,9% so cùng kỳ.

 

Hoạt động xuất khẩu bước đầu có chuyển biến đáng kể; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 100,4% kế hoạch, tăng 22% so với cùng kỳ. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch tiếp tục được đẩy mạnh. Lần đầu tiên tổ chức thành công Tuần Văn hóa - Du lịch Phú Yên 2017; phối hợp đăng cai tổ chức cuộc thi Hoa hậu Hữu nghị ASEAN năm 2017, tại Phú Yên.

 

Lượng khách du lịch đến tỉnh vượt 17% kế hoạch, tăng 19,5% so với cùng kỳ (trong đó khách quốc tế giảm 12,4% so với cùng kỳ); tổng doanh thu hoạt động du lịch 1.245 tỉ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ.

 

Dịch vụ vận tải có nhiều điểm khởi sắc. Tổng doanh thu vận tải thực hiện tăng 17,4% so cùng kỳ. Cùng với các hãng hàng không VietJet, Jetstar, hãng hàng không Việt Nam Airline đã khai thác trởlại tuyến bay Tuy Hòa - Hà Nội với tần suất 4 chuyến/tuần từ ngày 1/10/2017.

 

Hiện nay, tần suất bay tuyến Tuy Hòa - TP Hồ Chí Minh là 14 chuyến/tuần; tuyến bay Tuy Hòa - Hà Nội là 8 chuyến/tuần; ước trong năm 2017 sân bay Tuy Hòa đón trên 320.000 lượt khách, tăng 6,5% so với cùng kỳ. Hoạt động dịch vụ viễn thông tăng trưởng khá nhanh, đặc biệt là dịch vụ điện thoại di động và internet băng rộng. Tổng nguồn vốn huy động và cho vay của các ngân hàng đạt kế hoạch và tăng trên 18% so với đầu năm; tổng số nợ xấu của các ngân hàng giảm, chỉ chiếm 0,76%/tổng dư nợ.

 

- Tổng thu ngân sách ước thực hiện 3.790 tỉ đồng, đạt 124,4% dự toán Trung ương, đạt 100% dự toán tỉnh, tăng 18% so cùng kỳ; trong đó: thu trong cân đối là 3.604 tỉ đồng, đạt 124,7% dự toán Trung ương, đạt 100% dự toán tỉnh giao, tăng 27,4% so với cùng kỳ.

 

Tổng nợ thuế toàn tỉnh là 342,7 tỉ đồng (giảm 5,5% so với cùng kỳ), trong đó nợ khó thu là 123,6 tỉ đồng, tăng 29% so với đầu năm 2017. Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 7.460 tỉ đồng, đạt 117,3% dự toán Trung ương, đạt 81% nhiệm vụ điều hành chi ngân sách địa phương. Các khoản chi cơ bản đảm bảo đúng mục đích, tiết kiệm, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của tỉnh.

 

- Thường xuyên kiểm tra, theo dõi nắm tình hình, tổ chức đối thoại, kịp thời giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp. Thời gian giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực đầu tư xây dựng, đất đai, đăng ký kinh doanh tiếp tục được rà soát tinh giảm, rút ngắn đáng kể so với quy định của Trung ương.

 

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2016, tỉnh Phú Yên tăng lên 4 bậc, xếp thứ 51/63 tỉnh, thành, thuộc nhóm khá; chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công tăng 6 bậc, xếp thứ 48/63 tỉnh. Tiếp tục thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình đề ra.

 

Đã cấp mới đăng ký cho 357 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký 2.579 tỉ đồng; có 24 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trở lại; có 94 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và 52 doanh nghiệp giải thể, do sản xuất kinh doanh không hiệu quả. Ước đến cuối năm 2017 có 2.700 doanh nghiệp đang hoạt động.

 

- Công tác lập quy hoạch và quản lý quy hoạch được chú trọng. Tập trung kiểm tra, rà soát lại các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực… trên địa bàn tỉnh, để cập nhật, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với xu hướng phát triển và tình hình thực tế của địa phương. Công tác quản lý xây dựng được tăng cường.

 

Thường xuyên kiểm tra điều kiện, năng lực hoạt động của các đơn vị tư vấn, nhà thầu; thanh tra xử lý các vi phạm hành chính về lĩnh vực xây dựng. Đã ban hành kết luận về việc chấp hành các quy định của pháp luật trong triển khai xây dựng dự án Nhà ở xã hội Nam Hùng Vương, thành phố Tuy Hòa và tổ chức họp báo công bố thông tin về tình hình thực hiện dự án.

 

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước thực hiện năm 2017 là 13.132 tỉ đồng, chỉ đạt 64,1% kế hoạch, tăng 22% so cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu do tiến độ thi công các dự án còn chậm, số dự án đăng ký triển khai ít, vướng công tác giải phóng mặt bằng, một số dự án lớn tạm dừng thi công để hoàn tất các thủ tục đầu tư, nhất là các dự án FDI.

 

Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư hạn chế, nhưng tỉnh đã tập trung nguồn lực đầu tư hoàn thành đưa vào sử dụng một số công trình, dự án có ý nghĩa quan trọng phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn như: Tuyến đi bộ dọc đường Độc Lập (giai đoạn 1); Tuyến giao thông liên huyện Xuân Phước - Phú Hải và một số dự án kè chống xói lở trên địa bàn.

 

Cơ sở hạ tầng đô thị được đầu tư khá khang trang, nhất là thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu và huyện Đông Hòa. Tích cực phối hợp, tạo điều kiện các dự án lớn của Trung ương đầu tư trên địa bàn; đã hoàn thành đưa vào sử dụng dự án Hầm đường bộ Đèo Cả. Ước tỉ lệ giải ngân các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt 91% kế hoạch.

 

- Công tác xúc tiến, mời gọi đầu tư được đẩy mạnh. Tổ chức nhiều đợt tiếp xúc và làm việc với nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu đầu tư tại tỉnh; tổ chức đoàn thăm và làm việc với các công ty, tập đoàn lớn ở các địa phương để đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư vào địa bàn tỉnh và bước đầu đạt được một số kết quả tích cực. Đáng chú ý trong năm 2017, có nhiều nhà đầu tư đến khảo sát tìm hiểu cơ hội đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo trên địa bàn tỉnh.

 

Đến nay, tỉnh đã cho phép 17 nhà đầu tư tiếp cận, nghiên cứu khảo sát lập hồ sơ với công suất 1.310 MW, hiện nay Bộ Công thương đã thẩm định xong dự án điện gió, điện mặt trời của Công ty TNHH Năng lượng xanh Sông Cầu, đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đã quyết định chủ trương đầu tư 45 dự án đầu tư kinh doanh trong nước, với tổng vốn đăng ký 4.827 tỉ đồng. Kiên quyết xử lý thu hồi 11 dự án chậm tiến độ, chưa đưa đất vào sử dụng.

 

- Công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên, khoáng sản và môi trường được tập trung chỉ đạo. Hoàn chỉnh hồ sơ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong năm 2017 đạt 87,6% so với kế hoạch. Tăng cường kiểm tra, giám sát các dự án nạo vét, khơi thông luồng, lạch, cửa sông, cửa biển và các mỏ khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, nhất là khai thác cát.

 

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã cấp phép khai thác 30 mỏ cát làm vật liệu xây dựng thông thường, trong đó trên lưu vực Sông Ba là 24 mỏ. Qua kiểm tra, phát hiện xử lý 11 trường hợp về khai thác khoáng sản không phép, trái phép, đã xử lý vi phạm hành chính 9 trường hợp.

 

Công tác kiểm tra, xử lý các cơ sở sản xuất kinh doanh, cá nhân gây ô nhiễm môi trường được tăng cường. Đã kịp thời xử lý khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại Khu công nghiệp An Phú, thành phố Tuy Hòa.

 

2. Về đảm bảo an sinh xã hội và các lĩnh vực về xã hội

 

- Triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách về an sinh xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ. Giải quyết việc làm mới vượt 1,4% kế hoạch. Tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 45% trên tổng số lao động đang hoạt động kinh tế, đạt kế hoạch đề ra. Tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ cho các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội trên địa bàn tỉnh, nhất là trong dịp lễ, tết.

 

Tỉ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2017 còn 8%, giảm 2,23% so với năm 2016. Đã hỗ trợ xây dựng 537 nhà ở cho hộ nghèo, gia đình chính sách với tổng số tiền trên 21 tỉ đồng. Công tác phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em được tăng cường, tuy nhiên số trẻ em chết do đuối nước còn cao.

 

Triển khai thực hiện kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội miền núi và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện đáng kể.

 

- Chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước được nâng lên. Tỉ lệ học sinh giỏi, khá và đạt giải cao trong các cuộc thi cấp quốc gia, cấp tỉnh tăng so với năm học trước. Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT đạt 97,1%, tăng 12,21% so với năm trước. Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học được đầu tư, nâng cấp. Đến nay toàn tỉnh có 159/446 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 13 trường so với năm học trước. Số học sinh bỏ học giữa chừng giảm.

 

 

- Công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân từng bước được nâng cao. Thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ y tế, bước đầu có sự chuyển biến tích cực. Dịch bệnh ở người được kiểm soát, số ca mắc bệnh sốt xuất huyết giảm 66% so cùng kỳ.

 

Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, tuy nhiên còn có mặt hạn chế, đã xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, với 08 người mắc. Số người tham gia đóng bảo hiểm y tế đạt 83% trên tổng số dân trên địa bàn tỉnh, vượt 1,5% chỉ tiêu Nghị quyết HĐND tỉnh giao.

 

- Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thểdục thể thao diễn ra khá sôi nổi. Tổ chức tốt các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân, kỷ niệm các ngày lễ lớn, nhất là tổ chức các hoạt động kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Công tác trùng tu, tôn tạo di tích, sưu tầm phát huy giá trị di sản văn hóa được chú trọng.

 

Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã có quyết định công nhận di tích quốc gia địa điểm diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 ở Phú Yên. Các hoạt động thể dục thể thao, nhất là phong trào thể thao quần chúng phát triển. Trên địa bàn tỉnh có 28% số người tập luyện thểdục thể thao thường xuyên, 24% gia đình tham gia hoạt động thểthao.

 

- Công tác thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của tỉnh trong triển khai các dự án trên địa bàn được chútrọng. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và kết quả các đề tài nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, đời sống được đẩy mạnh.

 

Tổ chức đi khảo sát thực tế, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao mô hình ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao tại các tỉnh phía Nam và ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác với các doanh nghiệp tỉnh Lâm Đồng về hợp tác khai thác tiềm năng thế mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

 

3. Về Quốc phòng - an ninh

 

Triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương theo kế hoạch. Tổ chức giao quân năm 2017 đạt chỉ tiêu giao. Tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh, cấp huyện năm 2017.

 

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định. Số vụ phạm pháp hình sự giảm so cùng kỳ, tuy nhiên tội phạm ma túy diễn biến phức tạp, số đối tượng nghiện ma túy tăng nhanh. Đã xảy ra 28 vụ cháy làm chết 01 người và bị thương 03 người. Tai nạn giao thông giảm cả 03 mặt so với cùng kỳ.

 

4. Về công tác nội vụ, thi đua khen thưởng và công tác tôn giáo

 

- Bộ máy chính quyền các cấp tiếp tục được củng cố kiện toàn. Thành lập, đưa vào hoạt động Sở Ngoại vụ tỉnh; thành lập Trung tâm Y tế các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc Sở Y tế (trên cơ sở sáp nhập Trung tâm Y tế và Bệnh viện Đa khoa cấp huyện); sáp nhập Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản vào Bệnh viện Sản Nhi thuộc Sở Y tế; chuyển chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp từ Sở Giáo dục và Đào tạo về Sở Lao động -Thương binh và Xã hội.

 

Công tác tổ chức, cán bộ được thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình. Tổ chức xét tuyển viên chức ngành y tế, kết quả có 52 trường hợp trúng tuyển; đang tập trung chuẩn bị các điều kiện đểtổ chức thi tuyển công chức, thi tuyển viên chức ngành Y tế năm 2017.

 

- Công tác cải cách hành chính có chuyển biến tích cực. Tập trung chỉ đạo, quán triệt cán bộ công chức thực hiện phương châm “Thân thiện, nghĩa tình; tận tụy, trách nhiệm; kỷ cương, kỷ luật” trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Chỉ số cải cách hành chính của tỉnh được cải thiện đáng kể, tăng 10 bậc so với năm 2015, xếp thứ 20/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

 

Chỉ số cải cách hành chính năm 2016 của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh (đứng đầu khối Sở, ngành là Sở LĐ-TB-XH, đứng cuối là Sở NN-PTNT; đứng đầu khối huyện là UBND huyện Tây Hòa, đứng cuối là huyện Sơn Hòa).

 

Triển khai thực hiện việc gửi thư chúc mừng, thư chia buồn, thư xin lỗi đến người dân và doanh nghiệp theo quy định. Công tác Thi đua - Khen thưởng được đổi mới, chặt chẽ. Tiếp tục theo dõi, hướng dẫn tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật.

 

5. Về công tác nội chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí

 

Công tác tuyên truyền, phổ biến các Luật khi có hiệu lực thi hành được chútrọng. Công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật chặt chẽ hơn. Công tác tiếp công dân tiếp tục được chú trọng và duy trì thường xuyên từ cấp tỉnh đến cơ sở; đã tổ chức đối thoại, đi kiểm tra thực tế giải quyết các vụ việc khiếu nại kéo dài, không để xảy ra điểm nóng.

 

Công tác thanh tra được chútrọng triển khai thực hiện đảm bảo yêu cầu theo kế hoạch đề ra. Công tác phòng chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được chú trọng. Thường xuyên đôn đốc, chỉ đạo và phối hợp đẩy nhanh tiến độ công tác điều tra và xử lý các vụ việc về tham nhũng, lãng phí.

 

II. HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM:

 

1. Về phát triển Kinh tế:

 

- Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu tuy đạt kế hoạch, nhưng chất lượng vẫn còn thấp so với bình quân chung cả nước như: Tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh còn 8% (cả nước 6,9%); thu nhập bình quân đầu người của tỉnh gần 36 triệu đồng/năm (cả nước khoảng 46 triệu đồng); Tỉ lệ độ che phủ rừng 40,4% (cả nước 41,5%); riêng chỉ tiêu tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước chỉ đạt 64% kế hoạch.

 

- Qua hơn 2 năm triển khai Đề án cơ cấu lại ngành Nông nghiệp nhưng chỉ mới dừng ở bước xây dựng thể chế, chưa tạo sự chuyển biến trong sản xuất. Quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, chưa tạo ra các vùng sản xuất tập trung; việc ứng dụng công nghệ cao vào các khâu sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm còn hạn chế.

 

 

Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch nuôi trồng thủy sản ở các địa phương còn buông lỏng, nhất là quy hoạch vùng nuôi tôm hùm, dẫn đến tình trạng nuôi tự phát diễn ra ở nhiều nơi, gây ảnh hưởng đến môi trường, phát sinh dịch bệnh.

 

Việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng còn chậm; chưa kịp thời rà soát thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, triển khai phương án trồng rừng thay thế để thực hiện các dự án trên địa bàn. Việc triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản theo Nghị định 67 của Chính phủ còn chậm, tỉ lệ đóng mới tàu thuyền đạt rất thấp so với các tỉnh trong khu vực và chỉ tiêu Trung ương giao.

 

- Nguồn lực đầu tư chương trình xây dựng nông thôn mới còn hạn chế. Kết quả thực hiện các tiêu chí chưa bền vững, có 10 xã không giữ vững các tiêu chí đã đạt được trong năm 2017. Việc triển khai thực hiện Chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn các huyện có xã miền núi và Chương trình bê tông hẻm phố còn chậm, nhất là khâu thủ tục hồ sơ.

 

- Hoạt động du lịch tuy có một số chuyển biến nhưng chưa bền vững, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, lượng khách quốc tế đến tỉnh giảm so cùng kỳ. Tiến độ đầu tư, tu bổ, tôn tạo và nâng cấp các di tích, danh thắng trên địa bàn thực hiện còn chậm và việc quản lý các di tích, thắng cảnh chưa chặt chẽ, còn để xảy ra tình trạng lấn chiếm, xây dựng trái phép, ô nhiễm môi trường. Công tác quản lý thị trường còn hạn chế, tình trạng mua bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng chưa được kiểm soát.

 

- Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh khó khăn, cơ cấu các nguồn thu chưa ổn định; một số khoản thu chiếm tỉ trọng lớn trong cân đối ngân sách đạt thấp so với dự toán tỉnh giao; nợ khó thu tăng 29% so với cùng kỳ.

 

- Công tác quy hoạch, điều chỉnh bổ sung quy hoạch một số ngành, lĩnh vực còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội gây khó khăn trong việc định hướng, thu hút đầu tư.

 

- Tiến độ xây dựng của nhiều công trình, dự án quan trọng còn chậm so với kế hoạch; việc thẩm định hồ sơ, thủ tục triển khai dự án chưa chặt chẽ, dẫn đến một số dự phải tạm dừng thi công để bổ sung hoàn chỉnh thủ tục theo quy định và phục vụ cho các đoàn kiểm tra, thanh tra của Trung ương.

 

Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư ở một số địa phương thực hiện chưa quyết liệt, làm ảnh hưởng đến tiến độ các công trình, nhất là TP Tuy Hòa, huyện Đông Hòa, Tuy An.

 

Một số dự án của các nhà đầu tư lớn đã đăng ký đầu tư triển khai chậm, mới chỉ ở bước chuẩn bị thủ tục đầu tư, trong đó có một số dự án kéo dài nhiều năm nhưng chưa xử lý. Nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng chủ yếu dựa vào Nhà nước, chưa có giải pháp, cơ chế chính sách phù hợp đểkhuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội, đa dạng hóa các hình thức đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển. Việc quyết toán, hoàn ứng các công trình chậm.

 

- Công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị thực hiện chưa tốt. Tình trạng lấn chiếm lòng, lề đường buôn bán, xây dựng nhà ở, công trình trái phép, xây dựng không theo quy hoạch còn diễn ra khá nhiều nhưng chưa kịp thời phát hiện, xử lý kiên quyết, gây bức xúc trong dư luận.

 

- Công tác quản lý sử dụng đất đai, khoáng sản, bảo vệ môi trường chưa chặt chẽ. Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, không theo quy hoạch, nhất là khai thác cát còn diễn ra nhiều nơi, nhưng ngành chức năng và chính quyền địa phương chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong việc kiểm tra, giám sát, phát hiện xử lý theo quy định.

 

Chưa thường xuyên kiểm tra việc chấp hành các quy định về môi trường tại các cơ sở sản xuất trong khu công nghiệp; chưa có giải pháp hiệu quả để xử lý chất thải rắn, rác thải sinh hoạt ở các khu dân cư ven biển, ven sông gây ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan đô thị. Việc quản lý, vận hành hồ đập chưa chặt chẽ, để xảy ra một số sự cố gây thiệt hại lớn về tài sản của nhân dân.

 

2. Trong lĩnh vực Văn hóa - xã hội:

 

Công tác xóa nhà ở tạm cho hộ nghèo, hộ chính sách nghèo thực hiện còn chậm. Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm có mặt hạn chế, tình trạng thực phẩm không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng còn nhiều; còn để xảy ra ngộ độc với nhiều người mắc.

 

Tai nạn thương tích ở trẻ em xảy ra nhiều, nhất là tai nạn đuối nước tiếp tục tăng cao. Việc thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn lao động chưa thường xuyên, chặt chẽ. Tình trạng thừa thiếu giáo viên cục bộ trong ngành Giáo dục vẫn chưa được giải quyết.

 

Chưa có biện pháp xử lý hiệu quả tình trạng hát nhạc sống tại các khu dân cư, gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân trong khu vực.

 

Hiệu quả ứng dụng các đề tài khoa học công nghệ vào thực tiễn phục vụ đời sống, sản xuất còn thấp. Công tác thông tin tuyên truyền, công khai, minh bạch các chủ trương, kế hoạch của tỉnh và tình hình triển khai các dự án lớn trên địa bàn tỉnh còn hạn chế.

 

3. Trong lĩnh vực Quốc phòng - an ninh, nội chính

 

Tình hình an ninh, trật tự có lúc, có nơi còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp; hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống một số loại tội phạm như tội phạm trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích còn hạn chế. Tình hình tội phạm ma túy diễn biến phức tạp, số người nghiện tăng nhanh và hầu khắp ở các xã, phường, thị trấn trong tỉnh đều có người nghiện.

 

Số người chết do tai nạn giao thông còn cao. Một số trường hợp khiếu nại, tố cáo kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm, nhất là trên lĩnh vực đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng. Triển khai thực hiện một số kết luận tiếp công dân và quyết định xử lý sau thanh tra chưa nghiêm.

 

4. Trong lĩnh vực Cải cách hành chính

 

Cải cách hành chính chưa thực sự chuyển biến đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở. Một số cán bộ, công chức chưa thật sự thân thiện, nghĩa tình; tận tụy, trách nhiệm; kỷ cương, kỷ luật trong giao tiếp, thực hiện công vụ. Việc bố trí, sử dụng biên chế sự nghiệp, hợp đồng ngoài biên chế ở một số đơn vị, địa phương chưa chặt chẽ.

 

Vẫn còn một số cán bộ công chức chưa chấp hành nghiêm giờ giấc làm việc, quy tắc ứng xử; thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ công vụ. Số nhiệm vụ do Chủ tịch UBND tỉnh, UBND tỉnh giao thực hiện trễ hạn còn nhiều.

 

* Nguyên nhân của những khuyết điểm, hạn chế:

 

Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên ngoài các nguyên nhân khách quan, chủ yếu do các nguyên nhân chủ quan sau:

 

+ Thủ trưởng một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa phát huy tốt vai trò trách nhiệm người đứng đầu trong việc chủ động thực hiện chức năng, nhiệm vụ; chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công việc được giao. Chất lượng công tác tham mưu, đề xuất, “hiến kế” của một số ngành, địa phương còn rất hạn chế, chưa nghiên cứu kỹ các quy định, quy trình, thủ tục; nhiều trường hợp tham mưu, đề xuất chung chung, không nêu rõ chính kiến, quan điểm đối với nội dung thuộc lĩnh vực ngành phụ trách; thụ động trong việc triển khai nhiệm vụ, nặng về chờ chỉ đạo của cấp trên, của UBND tỉnh.

 

+ Thủ tục hồ sơ trong lĩnh vực quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng cơ bản còn phức tạp. Những tồn tại, vướng mắc trong xây dựng cơ bản lâu nay khắc phục còn chậm như: Thủ tục đầu tư, công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; giải ngân, quyết toán… ảnh hưởng đến tiến độ công trình, thực hiện nhiệm vụ được giao.

 

+ Cải cách hành chính chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Sự phối hợp giữa các ngành, địa phương có lúc thiếu đồng bộ làm kéo dài thời gian xử lý công việc. Trình độ, năng lực cán bộ ở một số cơ quan, đơn vị hạn chế, chưa đồng đều.

 

B. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2018

 

Năm 2018, theo dự báo của Chính phủ nền kinh tế thế giới sẽ có chuyển biến tích cực hơn. Đối với tỉnh ta, một số dự án có vốn đầu tư lớn đã và đang triển khai thực hiện; kỷ cương, kỷ luật hành chính dần đi vào nề nếp; kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp trong tỉnh từng bước được nâng lên, cùng với những thành quả đạt được của tỉnh trong những năm vừa qua sẽ tạo động lực thúc đẩy để phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh trong năm 2018 và những năm tiếp theo.

 

Tuy nhiên, tình hình chính trị, kinh tế thế giới và khu vực vẫn còn diễn biến khó lường. Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là hội nhập kinh tế đã mở ra cơ hội, thuận lợi cho phát triển nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức.

 

Trong khi đó, quy mô nền kinh tế của tỉnh còn nhỏ, nguồn lực cho đầu tư phát triển còn hạn chế; những khó khăn chung của nền kinh tế đất nước, nguồn thu ngân sách và sự hỗ trợ của ngân sách Trung ương chưa đáp ứng được yêu cầu đầu tư phát triển của tỉnh; hậu quả nặng nề của cơn bão số 12 chưa được khắc phục triệt để; chỉ số cải cách hành chính, chỉ số năng lực cạnh tranh chưa được cải thiện đáng kể.

 

Trên cơ sở đánh giá thuận lợi, khó khăn, UBND tỉnh xây dựng các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu và các nhiệm vụ, giải pháp năm 2018 như sau:

I. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

 

* Các chỉ tiêu kinh tế

 

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP): 8,2%.

Trong đó:

 

Nông lâm thủy sản: 3,5%.

 

Công nghiệp - xây dựng: 11,7%.

 

Dịch vụ: 9%.

 

Thuế sản phẩm: 2,0%

 

- Tổng kim ngạch xuất khẩu: 145 triệu USD.

 

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn: 4.000 tỉ đồng.

 

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội: 15.800 tỉ đồng.

 

- Tỉ lệ xã đạt tiêu chí nông thôn mới: 53%

 

* Các chỉ tiêu xã hội

 

- Giải quyết việc làm: 24.500 lao động.

 

- Giảm tỉ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm: 2,2%.

 

- Tỉ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế: 84,2%.

 

- Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng: 13%.

 

- Mức giảm tỉ lệ sinh: 0,2‰.

 

- Tỉ lệ lao động qua đào tạo: 64%.

 

- Tỉ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội/ tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế: 18%.

 

* Các chỉ tiêu môi trường

 

- Tỉ lệ che phủ rừng: 41,4%

 

- Tỉ lệ dân cư nông thôn được cung cấp nước sạch và nước hợp vệ sinh: 97,2%.

 

- Tỉ lệ dân cư thành thị sử dụng nước sạch và nước hợp vệ sinh đã qua xử lý: 82%.

 

- Tỉ lệ khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường: 100%.

 

* Chỉ tiêu về quốc phòng

 

- Tỉ lệ giao quân: 100%

 

II. CÁC NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CỤ THỂ

 

Để thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu chủ yếu đề ra, UBND tỉnh tập trung chỉ đạo quyết liệt thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:

 

1. Phát huy nội lực và thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế. Triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết của Chính phủ, Chương trình hành động, Nghị quyết của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế-xã hội, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt 8,2%.

 

2. Tập trung huy động các nguồn lực sớm khắc phục hậu quả bão số 12; sửa chữa gia cố công trình đê kè, đường giao thông để bảo vệ an toàn các khu dân cư, công trình công cộng; sớm triển khai dự án kè Xóm Rớ (giai đoạn 3), kè An Phú; xử lý vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh; hỗ trợ nhân dân sớm khôi phục sản xuất, ổn định đời sống.

 

Tiếp tục tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả đề án cơ cấu lại ngành Nông nghiệp, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất. Tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư sớm triển khai các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn. Thực hiện cơ cấu lại đàn vật nuôi theo lợi thế và thị trường. Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng; thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, quy trình, thủ tục về chuyển mục đích sử dụng rừng và đất rừng trên địa bàn tỉnh.

 

Tháo gỡ khó khăn, triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ ngư dân bám biển khai thác hiệu quả. Đẩy nhanh công tác lập quy hoạch và quản lý chặt chẽ các quy hoạch nuôi trồng thủy sản; phân định rõ trách nhiệm của từng ngành, địa phương trong việc kiểm tra, quản lý lồng bè nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm hùm lồng, tránh tình trạng nuôi tự phát, không theo quy hoạch, gây ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh.

 

3. Kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, phát triển mạnh doanh nghiệp, thúc đẩy khởi nghiệp. Tiếp tục đầu tư nâng cấp, hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật gắn với đẩy mạnh thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động khu kinh tế và một số khu, cụm công nghiệp; có kế hoạch thành lập thêm một số khu công nghiệp mới trên địa bàn tỉnh. Tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án công nghiệp trên địa bàn theo kế hoạch. Phối hợp, tạo điều kiện cho một số dự án đầu tư về lĩnh vực năng lượng sớm triển khai trên địa bàn.

 

4. Nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ. Khai thác có hiệu quả sàn thương mại điện tử, mua bán hàng trực tuyến. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, xuất khẩu. Tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, quảng bá tiềm năng du lịch của tỉnh, để thu hút du khách đến với Phú Yên; tạo điều kiện các nhà đầu tư sớm khởi công, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án du lịch trên địa bàn.

 

Tổ chức điều hành, quản lý chặt chẽ hoạt động vận tải đảm bảo thông suốt, an toàn; duy trì, nâng tần suất các tuyến bay hiện có và phát triển thêm nhiều tuyến bay mới đến các tỉnh, thành phố trong cả nước; sớm đưa vào khai các chuyến bay đêm ở sân bay Tuy Hòa.

 

Triển khai hiệu quả Chương trình hành động của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế tư nhân. Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng của ngân hàng; quản lý, sử dụng hiệu quả Quỹ Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh.

 

Tạo chuyển biến rõ nét về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh. Tổ chức sắp xếp, cơ cấu lại các doanh nghiệp đã cổ phần hóa; thực hiện cổ phần hóa Công ty TNHH MTV Cảng Vũng Rô, theo hướng Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

 

5. Triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các biện pháp thu ngân sách, chống thất thu, chuyển giá; có biện pháp cụ thể xử lý nợ đọng thuế; nuôi dưỡng, khai thác hiệu quả các nguồn thu; khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở chi nhánh, trụ sở làm việc tại tỉnh. Xử lý quỹ nhà thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách tiết kiệm, hiệu quả. Tăng cường giao quyền tự chủ, đẩy mạnh xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện.

 

6. Nâng cao chất lượng công tác lập quy hoạch và quản lý chặt chẽ các quy hoạch đã được phê duyệt. Tổ chức rà soát các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực... để cập nhật bổ sung điều chỉnh phù hợp với xu hướng phát triển và tình hình thực tế của địa phương. Lập dự án đầu tư xây dựng công trình kè chống sạt lở bờ tả sông Ba kết hợp với phát triển hạ tầng đô thị từ cầu Đà Rằng mới đến cầu Đà Rằng cũ. Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển.

 

Chú trọng đẩy mạnh công tác đối ngoại; tích cực làm việc với các bộ, ngành Trung ương để tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ về chuyên môn, nguồn lực để thực hiện. Nâng cao năng lực thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư và thực hiện đầu tư, đảm bảo đúng quy định, quy trình thủ tục; lựa chọn nhà đầu tư phải tâm huyết, có năng lực tài chính, kinh nghiệm và đảm bảo thực hiện dự án đúng tiến độ.

 

Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các dự án theo kế hoạch. Triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng các đô thị thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu và huyện Đông Hòa, theo Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

 

Làm tốt công tác quyết toán các dự án hoàn thành; giải ngân hết kế hoạch vốn đã bố trí. Tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng nông thôn mới; rà soát, có giải pháp giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí xã đạt chuẩn. Đẩy nhanh triển khai Chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn các huyện có xã miền núi và chương trình bê tông hóa hẻm phố theo kế hoạch. Tích cực phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất triển khai các dự án có quy mô lớn của quốc gia trên địa bàn tỉnh.

 

7. Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, phục vụ triển khai các dự án lớn trên địa bàn. Nghiên cứu khai thác hiệu quả nguồn quỹ đất phục vụ đầu tư phát triển, nhất là trên địa bàn thành phố Tuy Hòa.

 

Quản lý và sử dụng hiệu quả Quỹ phát triển đất tỉnh. Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư vào địa bàn tỉnh. Kiên quyết thu hồi các dự án đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng không triển khai thực hiện hoặc thực hiện chậm so với thời gian quy định, để đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm triển khai thực hiện.

 

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án nạo vét, khơi thông cửa sông, cửa biển; các dự án khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, nhất là các dự khai thác cát, đảm bảo thực hiện theo đúng quy trình, thủ tục và quy hoạch đã được phê duyệt; cương quyết xử lý, tạm dừng các dự án ảnh hưởng đến môi trường, gây sạt lở trong khu vực. Thực hiện chặt chẽ quy trình đánh giá tác động môi trường gắn với kiểm tra và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường.

 

8. Triển khai đầy đủ, kịp thời các chương trình, chính sách đảm bảo an sinh xã hội. Chú trọng công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững. Đẩy mạnh công tác xóa nhà ở tạm cho hộ nghèo và gia đình chính sách. Tổ chức tốt công tác tuyển sinh đầu cấp và Kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 trên địa bàn tỉnh. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân; phòng chống dịch bệnh. Tăng cường quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm. Tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của tỉnh và của đất nước, nhất là kỷ niệm 50 cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

 

Tăng cường kiểm tra, xử lý tình trạng hát nhạc sống không theo quy định. Mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, quan tâm phát triển thể thao thành tích cao. Đẩy mạnh ứng dụng các đề tài khoa học công nghệ có hiệu quả vào thực tiễn; triển khai thực hiện tốt các nội dung đã ký kết với tỉnh Lâm Đồng về hợp tác nông nghiệp công nghệ cao.

 

Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, công khai, minh bạch các chủ trương, kế hoạch của tỉnh, tình hình triển khai các dự án lớn trên địa bàn tỉnh để cán bộ, đảng viên và nhân dân biết, tạo sự đồng thuận trong tổ chức thực hiện.

 

9. Tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự - quốc phòng địa phương theo kế hoạch. Chỉ đạo công tác giao quân đạt chỉ tiêu, chất lượng. Tăng cường chỉ đạo công tác đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích, tội phạm ma túy.

 

Tổ chức thực hiện các giải pháp trọng tâm đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phấn đấu giảm sâu cả 3 tiêu chí (về số vụ, số người chết và số người bị thương). Thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy. Tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm đơn thư khiếu nại còn tồn đọng kéo dài.

 

10. Thực hiện mạnh mẽ cải cách hành chính, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, bình đẳng, minh bạch, ổn định, góp phần cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hiệu quả quản trị hành chính công (PAPI) và chỉ số cải cách hành chính (PAR-INDEX).

 

Nâng cao kỷ cương, kỷ luật hành chính; tập trung rà soát lại quy trình, quy chế làm việc của các cơ quan, đơn vị phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng cấp, từng cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ; đẩy mạnh phân cấp quản lý; tránh tư tưởng trông chờ, ỷ lại cấp trên và đùn đẩy trách nhiệm.

 

Thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra công vụ; xử lý nghiêm đối với những cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ cương, kỷ luật hành chính. Tiếp tục thực hiện tốt việc gửi thư chúc mừng, thư chia buồn, thư xin lỗi theo quy định. Xây dựng đề án Thành lập Trung tâm Hành chính công của tỉnh.

 

Thực hiện việc kiện toàn, sắp xếp lại bộ máy tổ chức các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố, đảm bảo tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

 

Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đảm bảo đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Quản lý chặt chẽ quỹ biên chế công chức hành chính, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.

 

Để thực hiện tốt mục tiêu tổng quát và nhiệm vụ cụ thể đã đề ra, yêu cầu các địa phương, cơ quan, đơn vị phải khẩn trương triển khai thực hiện; lựa chọn đúng nội dung trọng tâm, trọng điểm và làm tốt công tác chính trị tư tưởng, thông tin tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2018. 

 

BÌNH LUẬN
Mã xác nhận:



Nhập mã:

  
Loại Mua Bán
Đvt: triệu đồng/lượng
  
THỜI TIẾT
LIÊN KẾT
Trang thông tin điện tử Báo Phú Yên - Địa chỉ: http://www.baophuyen.com.vn
Cơ quan chủ quản: Tỉnh ủy Phú Yên - Giấy phép hoạt động báo chí in số 1958/GP-BTTTT ngày 23 tháng 11 năm 2011
Giấy phép thiết lập trang tin điện tử tổng hợp trên mạng internet số: 22/GP-TTĐT ngày 27 tháng 3 năm 2015
Tổng biên tập: Phạm Thanh Phong
Tòa soạn: 62 Lê Duẩn, phường 7, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Điện thoại: (057) 3841519, (057) 3842488 - Fax: (057) 3841275 - Email: toasoandientu@baophuyen.com.vn
Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử Báo Phú Yên" khi sử dụng thông tin từ website này
Trang chủ | Toà soạn | Quảng cáo | Đặt báo | Liên hệ
Bản quyền 2005 thuộc Báo Phú Yên Online
Thiết kế bởi nTek