Thứ Tư, 22/11/2017 10:47 SA
Áo trắng băng qua lửa đạn:
Kỳ 1: Tất cả vì tiền tuyến
Thứ Bảy, 19/08/2017 13:00 CH

Người thì từ Bắc vượt Trường Sơn vào Nam, người thoát ly gia đình đi theo kháng chiến, họ đã cống hiến tuổi thanh xuân, quên đi bản thân vì đại cuộc. Đó là những thầy thuốc băng qua bão đạn mưa bom, hoàn thành sứ mệnh của mình trong muôn vàn gian khổ, nguy nan.

 

Lịch sử Y tế Phú Yên ghi những trang vàng về các thế hệ thầy thuốc băng qua lửa đạn: “Vào những năm chiến tranh ác liệt như thời kỳ “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, địch tăng cường đánh phá, càn quét rất ác liệt…, cán bộ và nhân viên y tế Phú Yên đã phải ăn sắn bắp, rau rừng, lá rừng… hàng tháng trời, nhường phần lương thực ít ỏi còn lại cho thương bệnh binh. Nhiều cán bộ, nhân viên y tế đã hy sinh tính mạng hoặc một phần thân thể của mình để bảo toàn tính mạng của thương bệnh binh”.

 

 

Bác sĩ điều trị cho thương binh - Ảnh tư liệu của Bảo tàng Phú Yên

Vượt lên gian khổ, hiểm nguy

 

Năm 1966, sau khi tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội, bác sĩ trẻ Huỳnh Thị Kim Huê có mặt trong đoàn cán bộ y tế thứ hai vượt Trường Sơn vô Nam, hòa mình vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên chiến trường Phú Yên. Nơi đầu tiên mà nữ bác sĩ trẻ này phụ trách điều trị là Bệnh xá huyện Tuy An (mật danh Y13). Gắn bó với Y13 cho đến cuối năm 1972, bác sĩ Kim Huê đã cùng các đồng nghiệp - đồng đội đi qua những năm tháng vô cùng khó khăn, gian khổ. “Đây là quãng thời gian địch đánh phá ác liệt, Y13 phải liên tục thay đổi địa điểm, từ An Lĩnh dời qua An Xuân rồi xuống An Nghiệp… Chúng tôi vừa điều trị vừa lo chạy càn, cứ 10 ngày nửa tháng lại chạy càn một lần”, bác sĩ Huỳnh Thị Kim Huê nhớ lại.

 

Trên vùng đất bao phen bị đạn bom cày xới, nữ bác sĩ sinh năm 1940 này đã cùng đồng đội đối mặt với hiểm nguy, hoàn thành sứ mệnh của người thầy thuốc trong khói lửa chiến tranh. Bà Huê nhớ rõ một trận càn vào năm 1967, quân Mỹ tràn đến nơi Y13 đang đóng. Thời điểm này, bệnh xá có 15 cán bộ, nhân viên y tế, đa phần là phụ nữ, tuổi đời còn rất trẻ. Thật gay go khi những người thầy thuốc ở đây không thể đưa một số thương binh nặng chạy càn, đành chọn giải pháp: moi đá xếp thành hầm để giấu thương binh rồi ngụy trang kỹ ở bên trên. “Chúng tôi tản ra, ẩn náu trong rừng. Quân Mỹ đi cách nơi chúng tôi giấu thương binh chỉ chừng 2 mét và thật may là chúng không phát hiện được gì. Lính Mỹ khi càn thì đi thẳng một đường chứ không đi lung tung như lính Nam Triều Tiên”, bác sĩ Kim Huê kể.

 

Trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) của quân ta, Mỹ lại càn ở vùng 1 An Lĩnh, nơi Y13 đang đóng. Các y bác sĩ đã tìm mọi cách đưa thương bệnh binh vượt qua triền núi, ẩn mình trong một bãi lau ở Sơn Hòa. Những người thầy thuốc đã nhịn đói nhịn khát, chăm sóc và bảo vệ thương bệnh binh trong nhiều thời điểm nguy nan.

 

Một trong những “trận địa” gian khổ ở Phú Yên mà những người thầy thuốc kiên cường bám trụ là bệnh xá dân y Trúc Bạch, được tách từ Bệnh xá tỉnh (E100) theo nghị quyết đại hội Đảng toàn ngành Y tế vào tháng 7/1962. Các tài liệu lịch sử cho thấy, thời gian đầu, Bệnh xá Trúc Bạch có từ 40-50 giường bệnh, phục vụ cán bộ Dân Chính Đảng, các mũi công tác và người dân trong vùng căn cứ, vùng giải phóng. Bệnh xá gồm... 3 cái nhà tranh, bếp Hoàng Cầm và một số chảo gang, nồi đồng dùng để nấu cơm, cháo cho thương bệnh binh; giường thì được bện bằng tre nứa, cây rừng. Khoảng 30 cán bộ, nhân viên y tế ở bệnh xá này (phần đông là phụ nữ) thường xuyên chăm sóc, điều trị cho từ 40-60 thương bệnh binh, có khi lên đến hàng trăm người. Địa điểm của bệnh xá cũng thay đổi tùy theo tình hình: từ Phước Tân dời xuống Tổng Binh để có điều kiện tăng gia sản xuất, thời gian sau do địch đánh phá ác liệt nên chuyển về lại Phước Tân rồi dời xuống Mò O.

 

Bác sĩ Huỳnh Ngọc Ấn, Chủ tịch Hội Y học tỉnh Phú Yên, người gắn bó với Bệnh xá Trúc Bạch từ năm 1965-1972, nguyên Phó Giám đốc Sở Y tế, nhớ lại: “Thời kỳ đó đói cơm lạt muối là chuyện thường ngày, diễn ra triền miên. Gạo không có, anh chị em chúng tôi phải ăn trái sung, trái cây rừng… trừ cơm”.

 

Bác sĩ Măng Cư, người có mặt trong đoàn cán bộ y tế thứ tư từ Bắc vào Phú Yên năm 1970, nguyên Phó Giám đốc Sở Y tế Phú Yên, chỉ có vỏn vẹn 3 ngày công tác ở Bệnh xá Trúc Bạch nhưng cũng đã hiểu được bao khó khăn gian khổ mà các đồng nghiệp - đồng đội của ông phải đối mặt ở nơi này. “Trong 3 ngày làm việc ở đây, tôi chỉ ăn bắp rang chứ không có cơm. Lúc ấy, thuốc men chỉ có 2 nguồn: từ miền Bắc chi viện vào và từ cơ sở đưa lên, nhưng không bao giờ đủ cả. Những người thầy thuốc ở đây phải kết hợp đông - tây y, đặc biệt là trong điều trị bệnh sốt rét, còn rửa vết thương thì dùng nước nấu từ vỏ cây bằng lăng”, bác sĩ Măng Cư nhớ lại. Sau mấy ngày làm việc ở Bệnh xá Trúc Bạch, bác sĩ Măng Cư được điều về Bệnh xá huyện Tuy Hòa 1 (mật danh Y16), đóng ở xã Hòa Thịnh (nay thuộc huyện Tây Hòa) - nơi có những gộp đá, hang đá chống chọi được bom Mỹ.

 

Những ca phẫu thut thử thách nghị lực

 

TS Nguyễn Thành Quang, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên, khi đó là cán bộ Tuyên huấn ở Huyện ủy Tuy Hòa 1, kể: “Chiến trường hết sức ác liệt, những người lính chịu nhiều thử thách, các y bác sĩ còn phải “cõng” thêm thương bệnh binh. Lương thực, thuốc men được tiếp tế về rất ít, chủ yếu là thuốc, nhưng đem về đến nơi thì hầu hết đã quá hạn sử dụng. Không có dịch truyền, anh em ở Bệnh xá huyện Tuy Hòa 1 nảy ra sáng kiến lấy… nước dừa non lọc qua bông gòn rồi truyền; kháng sinh hết hạn vẫn phải dùng thôi. Có một đồng chí bị thương, thủng đến 9 lỗ ở ruột. Trước khi phẫu thuật, chính trị viên đến làm công tác tư tưởng: Đồng chí không mổ thì sẽ không qua khỏi, còn mổ thì… bác sĩ chỉ có dao và lọ thuốc gây tê này. Đồng chí hãy can đảm chịu đau để mổ. Rồi anh em vạt một miếng gỗ đặt vào ngang miệng người bị thương, cột lại, phòng khi đau quá đồng chí ấy nghiến răng cắn trúng lưỡi; chân tay cũng phải trói chặt để người bị thương không giãy giụa. Bác sĩ Vũ Đình Phong, Bệnh xá trưởng và y tá Ba Thơ, tức Lê Huy Thơ, mổ ca này. Khi nào thấy bệnh nhân đau quá, ngất thì thì tiêm một tí thuốc tê và tiếp tục mổ, khâu 9 lỗ thủng ở ruột rồi may đóng bụng lại”. Ông Nguyễn Thành Quang, người chứng kiến ca phẫu thuật trên, có một kỷ niệm khó quên ở Y16, khi những người thầy thuốc cột chặt chân trái của ông, mổ để lấy mảnh đạn trong bàn chân ra mà không hề có một giọt thuốc gây tê!

 

“Ở đây, mọi thứ đều thiếu thốn, thầy thuốc phải nhường phần ăn ít ỏi của mình cho thương bệnh binh. Trong kho hết gạo, thầy thuốc theo bộ đội về các cửa khẩu bí mật để mua gạo, mang vác về cho thương bệnh binh. Họ đúng như câu nói của Bác Hồ “Lương y như từ mẫu”. Họ sống hết mình vì đồng đội, hết mình vì thương bệnh binh”, ông Nguyễn Thành Quang cảm kích.

 

Cùng được tách ra từ Bệnh xá E100 ở vùng căn cứ Ma Dú thuộc xã Phước Tân, huyện Miền Tây (nay là huyện Sơn Hòa), Bệnh xá Hồ Tây là đơn vị tuyến sau, điều trị thương bệnh binh đến từ các binh chủng. Chuyển địa điểm từ làng Gộp, dốc Mò O, Đồng Hội đến suối Trưởng, Bốn Chống, suối Rù Rì…, bệnh xá quân y này tăng quy mô từ 50-60 lên đến hàng trăm giường, chăm sóc, điều trị cho thương binh nơi tuyến lửa. Các ca phẫu thuật được tiến hành từ ban ngày cho đến ban đêm, dưới ánh đèn măng sông có dụng cụ chụp che sáng nhằm tránh không để máy bay địch phát hiện. Không chỉ điều trị, những người thầy thuốc ở đây còn tăng gia sản xuất để có thêm lương thực, thực phẩm cho thương bệnh binh và cho chính mình. Nhiều khi hoa màu sắp đến lúc thu hoạch thì bị địch rải chất độc hóa học, cây trụi không còn một chiếc lá!

 

“Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn gian khổ, chúng ta vẫn lạc quan, hoàn thành nhiệm vụ được giao, vẫn vui vẻ điều trị, chăm sóc thương bệnh binh”, Thầy thuốc Ưu tú - BSCKII Nguyễn Đình Địch, người từng gắn bó với Bệnh xá Trúc Bạch, nguyên Giám đốc Sở Y tế Phú Yên, nói trong buổi gặp mặt đồng nghiệp - đồng đội từ các chiến trường ở Phú Yên sau 42 năm kể từ ngày đất nước thống nhất.

 

Lịch sử Y tế Phú Yên (giai đoạn 1945-1975) đã ghi những trang vàng về sự cống hiến tuổi thanh xuân, quên bản thân mình của những người thầy thuốc băng qua lửa đạn: “Vào những năm chiến tranh ác liệt như thời kỳ “Chiến tranh cục bộ” (1966-1968), “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1972), một mặt địch tăng cường đánh phá, càn quét rất ác liệt, ngăn chặn các hành lang, cửa khẩu làm cho việc vận chuyển lương thực, thực phẩm của ta bị trở ngại, một mặt chúng thường xuyên rải chất độc hóa học làm cho hoa màu tăng gia bị chết hàng loạt; lương thực thực phẩm vô cùng thiếu thốn… Sau mỗi lần địch rải chất độc hóa học, cán bộ và nhân viên y tế Phú Yên đã phải ăn sắn bắp, rau rừng, lá rừng, trái sung, hột đác hàng tháng trời, nhường phần lương thực ít ỏi còn lại cho thương bệnh binh. Trong công tác đảm bảo lương thực, thực phẩm, chăm sóc thương bệnh binh đã có nhiều tấm gương hy sinh anh dũng của cán bộ, nhân viên ngành Y tế. Nhiều cán bộ, nhân viên y tế đã hy sinh tính mạng hoặc một phần thân thể của mình để bảo toàn tính mạng của thương bệnh binh...

 

Qua 2 cuộc kháng chiến, trong số gần 2.500 người công tác trong ngành Y tế Phú Yên có 274 thầy thuốc vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường, 192 thương binh, 8 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

 

Nhân kỷ niệm 56 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam, ngày 2/9/2001, ngành Y tế Phú Yên vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng lực Lượng vũ trang nhân dân.

 

Kỳ cuối: Hồi ký của nữ y tá từng vào tù ra khám

 

PHƯƠNG TRÀ

BÌNH LUẬN
Mã xác nhận:



Nhập mã:

CÁC TIN KHÁC
  
Loại Mua Bán
Đvt: triệu đồng/lượng
  
THỜI TIẾT
LIÊN KẾT
Trang thông tin điện tử Báo Phú Yên - Địa chỉ: http://www.baophuyen.com.vn
Cơ quan chủ quản: Tỉnh ủy Phú Yên - Giấy phép hoạt động báo chí in số 1958/GP-BTTTT ngày 23 tháng 11 năm 2011
Giấy phép thiết lập trang tin điện tử tổng hợp trên mạng internet số: 22/GP-TTĐT ngày 27 tháng 3 năm 2015
Tổng biên tập: Phạm Thanh Phong
Tòa soạn: 62 Lê Duẩn, phường 7, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Điện thoại: (057) 3841519, (057) 3842488 - Fax: (057) 3841275 - Email: toasoandientu@baophuyen.com.vn
Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử Báo Phú Yên" khi sử dụng thông tin từ website này
Trang chủ | Toà soạn | Quảng cáo | Đặt báo | Liên hệ
Bản quyền 2005 thuộc Báo Phú Yên Online
Thiết kế bởi nTek